Căn ngày là chính bản thân người đó
Trong tám ký tự của saju, căn ngày (căn thiên của ngày sinh) đề cập đến chính bản thân người đó. Bảy ký tự còn lại được đọc như môi trường mà căn ngày đó được đặt vào.
Mười Thần (十神) phân chia cách mà căn ngày nhận thức các ký tự khác thành mười loại. Điều nuôi dưỡng tôi là tài nguyên, điều giống tôi là bạn bè, điều tôi sản xuất là đầu ra, điều tôi kiểm soát là tài sản, và điều kiểm soát tôi là quyền lực — mỗi một trong năm điều này sau đó được chia theo tính cực, tạo thành mười.
Căn ngày của mỗi người là gì đối với nhau
Đây là mục đầu tiên trong sự tương hợp. Khi xác định được căn ngày của A nhận thức căn ngày của B như thế nào, nhận thức của B về A cũng được xác định, vì vậy chỉ có sáu khả năng.
| Cặp | Âm/Dương | Tên | Ý nghĩa |
|---|---|---|---|
| Tài sản trực tiếp ↔ Quyền lực trực tiếp | Tính cực đối lập | Mối liên kết ấm (有情) | Đây là cặp đôi truyền thống được xem như vị trí của vợ/chồng. Âm và dương không khớp nhau, thu hút lẫn nhau. |
| Sát thương Quan ↔ Tài nguyên trực tiếp | Tính cực đối lập | Sát thương Quan mang Ấn (傷官佩印) | Một bên bao bọc năng lượng mãnh liệt của bên kia. |
| Bạn bè ↔ Bạn bè | Tính cực giống nhau | Bằng nhau | Họ giống nhau và bằng nhau, nhưng không thúc đẩy lẫn nhau. |
| Đối thủ ↔ Đối thủ | Tính cực đối lập | Cạnh tranh | Họ thu hút lẫn nhau nhưng cạnh tranh cho cùng một vị trí. |
| Tài sản gián tiếp ↔ Quyền lực gián tiếp | Tính cực giống nhau | Mối liên kết lạnh (無情) | Sự kích thích rất lớn, nhưng gánh nặng cũng nặng nề. |
| Thần ăn ↔ Tài nguyên gián tiếp | Tính cực giống nhau | Ngôi sao cú cắp thực phẩm (梟神奪食) | Năng lượng được cung cấp bị bên đối tác lấy đi, chặn dòng chảy. |
Lý do xem xét với Mười Thần thay vì ba yếu tố
Có một phương pháp xem xét mối quan hệ của căn ngày với ba yếu tố (sinh ra lẫn nhau, giống nhau, vượt qua lẫn nhau). Nó đơn giản, nhưng âm và dương biến mất. 甲 (gỗ dương) và 乙 (gỗ âm) trở thành cùng một 'sự giống nhau' như 甲 và 甲, và sự vượt qua lẫn nhau bị nghiền nát thành một điểm số duy nhất mà không có hướng đi hoặc âm và dương.
Vị trí vợ/chồng phải được đánh giá theo Mười Thần. Nếu các mục được xem xét bởi năm yếu tố và các mục được xem xét bởi Mười Thần được trộn lẫn trong một động cơ, sẽ có hai tiêu chuẩn cho cùng hai ký tự. Do đó, chúng tôi thống nhất với Mười Thần.
Vị trí vợ/chồng là Tài sản chính và Quan chính
Trong truyền thống, Mười Thần nào đại diện cho vợ/chồng khác nhau theo giới tính.
| Giới tính | Vị trí Vợ/chồng | Vị trí Tương ứng |
|---|---|---|
| Nam | Tài sản trực tiếp (正財) | Tài sản gián tiếp (偏財) |
| Nữ | Quyền lực trực tiếp (正官) | Quyền lực gián tiếp (偏官) |
Ngay cả khi chúng là cùng một tài nguyên, chỉ có Tài sản Chính cảm xúc được coi là vị trí của vợ/chồng, trong khi Tài nguyên được đọc như bản chất của hoạt động và tài sản. Do đó, Tài sản Chính và Quan Chính tính là 2 điểm, trong khi Tài nguyên và Quan tính là 1 điểm, và cả hai hướng được cộng lại — nếu cả hai được coi là vị trí vợ/chồng, đó là cao nhất.
Chúng tôi cũng cho thấy hình dạng của mối quan hệ
Ngoài điểm số, chúng tôi mô tả hình dạng mà cặp ngày chi có trên màn hình kết quả. Liệu chúng có vị trí tương tự, liệu một bên hỗ trợ bên kia, hay liệu một bên bị áp chế — nếu đó là mối quan hệ hỗ trợ hoặc áp chế, chúng tôi làm rõ bên nào giữ vị trí đó.
Nếu chỉ có một điểm số được trình bày, nó để lại câu hỏi 'vậy thì sao'. Hình dạng không phải là một điểm số mà là điều để đọc, và ngay cả những cặp có điểm số thấp cũng có điều gì đó để diễn giải.
